In ấn và thuật ngữ ngành in ấn

In ấn

Thuật ngữ ngành công nghệ in ấn

Ở mỗi chuyên ngành, mỗi lĩnh vực đều có thuật ngữ riêng. Ở đây binalabels.com chia sẻ những thuật ngữ thường dùng trong lĩnh vực in ấn. Các bạn cùng đọc, hi vọng sẽ giúp ích được phần nào tới anh chị em trong ngành. Nào cùng tham khảo thuật ngữ ngành công nghệ in ấn :

Bẫy in thừa mực: Trong in ướt máy in ướt, trạng thái nhận mực khi hai hoặc nhiều loại mực được chồng lên nhau.

Bìa cứng trắng đáy xám CCNB (Clay Coated News Back): còn được gọi là thẻ xám bột, là loại bìa cứng có lớp phủ màu xám được làm từ vật liệu tái chế, thường được sử dụng để bán bao bì E, B bề mặt giấy có hiệu suất in màu tốt.

In offset 4 màu: Bốn tấm tách màu vàng, đỏ tươi, lục lam và đen có thể được in đè bằng mực để có được phương pháp in offset về cơ bản giống với màu gốc.

Giấy bìa cứng đồng SBS (Solid Bleached Sulphate): hay còn gọi là thẻ bột lõi trắng, 100% bột gỗ nguyên chất được tách bằng phương pháp sulphat hóa và tẩy trắng thành loại bìa cao cấp có khả năng in ấn tốt. Nó chủ yếu được sử dụng cho mỹ phẩm cao cấp, nhu yếu phẩm hàng ngày, sản phẩm điện tử và các bao bì khác đòi hỏi hiệu ứng in ấn chất lượng cao. Theo tình hình lớp phủ bề mặt, SBS được chia thành thẻ bột đơn C1S (phủ một mặt) và thẻ bột kép C2S (phủ hai mặt). Theo hiệu ứng phủ bề mặt, nó được chia thành Matte (giấy mờ) và Glossy (giấy bóng).

Giấy nghệ thuật: còn được gọi là đồng nhẹ, chủ yếu được sử dụng để in sách màu. Kết cấu tương tự như SBS, nhưng trọng lượng thấp hơn.

Grey Chip Board: thường được làm bằng giấy tái chế hoàn toàn, có độ cứng tốt và độ dai kém, chủ yếu được sử dụng cho bìa sách và hộp bao bì thủ công.

In ấn

Công nghệ in: công nghệ in hiện thực hóa các thông số kỹ thuật, quy trình và phương pháp vận hành in ấn khác nhau

In thạch bản bù đắp: Phương pháp in trong đó đồ họa trên tấm in trước tiên được in trên chất mang trung gian (hình trụ cao su), sau đó được chuyển sang chất nền.

In ướt trên máy in nhiều màu: màu in trước chưa khô, và màu in sau ngay lập tức bị in đè lên bề mặt của nó.

In offset không dùng nước: là một loại phương pháp in thạch bản sử dụng lớp cao su silicone chống thấm mực trên tấm in thạch bản làm phần trống của tấm in mà không làm ẩm, nó được in bằng mực đặc biệt.

Chuỗi màu theo trình tự màu: Trong in nhiều màu, trình tự màu trong đó các tấm tách màu được in tuần tự trên chất nền theo một trình tự màu nhất định.

Đăng ký: Khi in với nhiều hơn hai màu, đồ họa và văn bản của tấm màu dự phòng có thể đạt được và duy trì đăng ký chính xác.

Số P: dùng để chỉ một mặt của tờ giấy 16 nút.

Mực in kim loại: được in bằng mực bột kim loại vàng hoặc bạc.

Kho in chất nền: có thể chấp nhận mực hoặc hấp phụ các chất màu và trình bày các chất liệu khác nhau của đồ họa và văn bản.

In planographic print planographic: In một phương pháp in sử dụng phương pháp in planographic.

In nạp tờ giấy: In nạp tờ giấy lấy giấy nạp tờ hoặc các vật liệu một tờ khác làm chất nền để in.

Xếp tờ giấy: Trước khi in một tờ, giấy hoặc chất nền cần in được xếp ngay ngắn trên bàn nạp giấy.

Doa màu: Đơn vị đo lường để in offset. Một màu được in trên 1.000 lá.

Sự cố in offset: Thuật ngữ chung để chỉ ảnh hưởng đến việc in ấn bình thường hoặc các lỗi chất lượng in ấn trong quá trình in offset.

Swatch màu: Tiêu chuẩn của màu được in.

Bleed: Vị trí dành riêng để cắt vật liệu in.

Vùng rắn: Vùng của khối màu không có dấu chấm, thường dùng để chỉ toàn bộ bảng.

Màu đốm: đề cập đến các màu đặc biệt ngoài bốn màu (vàng, đỏ tươi, lục lam và đen).

Loại ngược màu trắng đảo ngược: Văn bản hoặc các dòng được in bằng các dòng âm bản, để lộ ra màu trắng của giấy.

Gia vị sấy giấy: Treo giấy trước khi in để cân bằng độ ẩm của giấy với nhiệt độ và độ ẩm của xưởng in giúp khổ giấy luôn ổn định.

Sai lệch đăng ký không chính xác: Trong quá trình đăng ký, sai sót đăng ký chồng chéo.

Vạch đăng kiểm: hay còn gọi là vị trí kim là vạch chéo và vạch góc đặt ở mép tấm in, là cơ sở để sửa bản và kiểm tra đăng ký.

Lô màu tiêu chuẩn màu: Tiêu chuẩn của các màu cơ bản và màu hỗn hợp của chúng được thể hiện bằng các khối màu dạng lưới và (hoặc); nó cũng có thể được sử dụng làm dấu cho từng tấm tách màu trong quá trình tạo và in bản.

Làm ẩm: Trước khi đổ mực, tấm in thạch bản được làm ướt bằng dung dịch làm ẩm để duy trì khả năng chống thấm mực của phần trống.

Làm khô bằng tia cực tím: Đóng rắn bằng tia cực tím Mực cực tím hoặc dầu bóng trên bề mặt được chiếu tia cực tím để nhanh chóng trùng hợp và đóng rắn.

Làm ẩm bằng cồn: Làm ẩm bằng cồn thêm cồn, isopropanol hoặc các loại cồn khác vào dung dịch làm ướt bản in offset để giảm sức căng bề mặt của nước và giúp làm ướt bản in.

Mực in: Chất hình ảnh được chuyển đến chất nền trong quá trình in của kho in thường bao gồm bột màu, chất kết dính, chất độn và phụ gia, và có độ lưu động và độ nhớt nhất định.

Vệt: Vệt xuất hiện trên mặt phẳng anilox và song song với trục của hình trụ Đây là một lỗi của in offset.

Đổ mực: Do mực tràn trong đồ họa và văn bản của tấm in, nên dấu ấn trên nền không rõ ràng, đây là một sự cố của in offset.

Áp lực in: Là lực tương tác giữa các cơ quan in trong quá trình in.

Hình ảnh yếu đi: Tông màu mịn của đồ họa và văn bản của tấm in phẳng trở nên nhạt hơn, diện tích điểm và dòng bị giảm, và thậm chí mất ái lực của mực.

Độ lợi điểm chấm: Diện tích điểm tăng điểm trên đế lớn hơn diện tích của phần tương ứng của tấm in.

Váng bẩn bản in: Phần trống bị chảy mực do tấm in làm ướt kém.

Mực tích tụ: Mực và các chất khác đọng lại trên trục lăn hoặc tấm phủ mực, tạo thành cặn giống như cặn, ảnh hưởng đến quá trình truyền mực và in.

Nhũ hóa mực in: Hiện tượng mực in hấp thụ chất lỏng làm ướt trong quá trình in.

Lỗi in: do hấp thụ quá nhiều chất lỏng làm ướt trong mực.

Chà xát tẩy mực: Là hiện tượng trục lăn mực kim loại bị ăn mòn do chất lỏng thấm ướt và bị oxy hóa để đẩy mực ra ngoài.

Moire: Do sự sắp xếp các góc chấm của từng mảng màu không hợp lý, hình ảnh in ra có kiểu không mong muốn.

Meihuadian Reticised: như một con nai hoa. Tệ nhất được gọi là Xiwen, và tệ hơn là Moire.

​​Bóng ma: Đường viền kép của các đường hoặc văn bản chấm cùng màu trên vật liệu in.

Kén mực: Trong quá trình in, mực quá dính hoặc độ bền bề mặt giấy kém, làm cho sợi giấy, chất độn hoặc sơn rơi ra hoặc bị kéo ra khỏi bề mặt giấy.

Máy sản xuất tem nhãn mác

Smudge set-off: còn được gọi là phần dưới, mực in được in trên lớp nền dính vào mặt sau của một tờ in khác, gây ra hiện tượng lem.

In qua: Hình ảnh được in trên giấy có thể nhìn thấy từ phía sau.

Chảy máu: khi in thừa dùng để chỉ mực in không có khả năng chống lại dung môi. Khi in quá nhiều dung môi, sẽ có hiện tượng chảy máu xung quanh bản in của sản phẩm in và các chấm sẽ bị mờ.

Kết tinh: kết tinh là hiện tượng mực in trên mặt nền bị khô quá mức, kết mạc bề mặt quá nhẵn khiến mực in sau đó không thể in được 5,6 hoặc hoàn toàn không in được.

Chặn trang kết dính: đề cập đến loại mực khô chậm được sử dụng trong in ấn để sản phẩm in được dán thành từng khối.

Pinholing Pinholing: đề cập đến hiện tượng mực không thể làm ướt đúng cách bề mặt của chất nền và các lỗ giống như hạt bị lộ ra ngoài.

Độ nhớt: Độ nhớt dùng để chỉ lực của chất lỏng chống lại sự thay đổi vị trí của nó khi nó chảy. Nó bằng tỷ số giữa ứng suất cắt và tốc độ cắt. Nó thường được mã hóa bằng “η”

Phun sương: là hiện tượng các hạt mực bắn ra khỏi thiết bị vận hành máy in, máy đo độ nhớt…

Sau khi mực đông kết được in trên giấy, giấy sẽ hấp thụ phần mỏng của các thành phần mực, và các thành phần rắn của bột màu ngay lập tức đông đặc lại tạo thành một màng mực không làm lem mặt sau của giấy.

Sấy khô: đề cập đến toàn bộ quá trình chuyển đổi một lớp mực mỏng thành một màng mực rắn.

Bảo dưỡng cực tím bằng tia cực tím: là quá trình mà mực in chuyển từ trạng thái lỏng sang trạng thái rắn ngay lập tức dưới sự chiếu xạ của tia cực tím.

Làm khô kết mạc bị oxy hóa: Làm khô không khí đề cập đến quá trình trong đó (một độ dày nhất định) mực biến thành một màng rắn do quá trình trùng hợp oxy hóa.

Bảo dưỡng bằng lò nướng: đề cập đến quá trình mực chuyển sang trạng thái rắn trong điều kiện nướng.

Độ xuyên sáng (Transparence): Độ xuyên sáng đề cập đến khả năng truyền ánh sáng của mực và phản chiếu màu sắc của mực được phủ.

Thuộc tính san bằng đề cập đến hiệu suất của mực làm đều trên bề mặt và hiển thị đủ độ bóng mà không có lỗ kim.

Độ bóng: Độ bóng dùng để chỉ mức độ mà mực in phản chiếu ánh sáng theo cùng một hướng dưới ánh sáng.

Độ bền của thiếc: thể hiện sự khác biệt về mật độ màu giữa mẫu mực và mẫu chuẩn.

Cân bằng mực-nước: Mối quan hệ tương đối ổn định giữa mực và chất lỏng làm ẩm trong quá trình in thạch bản.

Tiêu chuẩn tổng thể: là mẫu tham chiếu để kiểm soát sản xuất mực và giám sát chất lượng và thử nghiệm.

Làm ẩm bằng cồn: Cồn, isopropanol hoặc các chất cồn khác được thêm vào dung dịch làm ướt bản in offset để giảm sức căng bề mặt của nước và giúp làm ướt tấm in.

Dung dịch đài phun: Một dung dịch nước được sử dụng để làm ướt tấm in trong quá trình in.

Dán keo: Dán gôm arabic hoặc keo thay thế khác trên tấm in offset. Để bảo vệ tấm in và cải thiện tính ưa nước của phần trống của tấm in.

Độ bám dính đề cập đến độ bám dính của mực in trên bề mặt.

Độ khô ban đầu: Khi mực gốc dung môi được làm bay hơi và làm khô bằng cách sử dụng rãnh hình thang của máy đo độ mịn chổi cao su dưới nhiệt độ, độ ẩm và thời gian quy định, độ sâu rãnh mà tại đó không có vết chuyển được gọi là độ khô ban đầu của mực. .

Độ bền kết dính của băng dính đề cập đến mức độ mà băng dính được dán trên bề mặt của mực in trên bề mặt không thấm nước và sau đó bóc ra.

Độ bền ánh sáng: Độ bền ánh sáng dùng để chỉ mức độ thay đổi màu sắc của mực in sản phẩm sau khi phơi dưới ánh sáng mặt trời hoặc để trong máy phơi trong một thời gian nhất định.

Máy sấy hút ẩm: Các muối vô cơ hoặc hữu cơ của chì, coban, mangan và các kim loại biến đổi khác và của chúng

Độ sống gel liên quan đến mức độ dày lên hoặc kết tụ của mực ở nhiệt độ và thời gian xác định.

Chà xát: Khả năng chống cọ xát đề cập đến mức độ hư hại của mực in sau khi bị cọ xát.

Mực in offset: Một thuật ngữ chung để chỉ các loại mực thích hợp cho các loại máy in offset khác nhau.

Bốn màu xử lý mực in offset bốn màu xử lý mực in offset thích hợp cho máy in offset bốn màu hoặc máy in offset thông thường, áp dụng quy trình in bốn màu, bộ mực màu vàng, đỏ tươi, lục lam, đen, để in ảnh màu hoặc bản thảo sơn màu.

Mực vàng mực vàng (mực đồng): Là loại mực sau khi in có ánh vàng, được làm từ bột hợp kim đồng làm bột màu.

Mực in bóng ngọc trai: Mực in ngọc trai Loại mực làm bằng bột màu ngọc trai có ánh ngọc trai đẹp trên bản in.

Mực in offset không nước là mực in offset không cần hệ thống nước làm ướt để in.

Mực bạc: Mực bạc sau khi in, nó được làm từ bột nhôm làm bột màu.

Vecni là một loại dầu điều chỉnh độ nhớt hoặc độ đặc của mực.

Vecni vàng dùng để trộn bột vàng vào mực in, và được dùng làm chất kết dính để in vàng.

Dầu trắng: Laketine là chất pha loãng tạo nhũ tương với nhiều nước.

Chất làm sáng phụ trợ trong suốt hoặc mờ, được thêm vào mực chủ yếu để làm sáng màu.

Chất pha loãng: Một vật liệu được sử dụng để giảm độ đặc hàng năm hoặc độ đặc của mực.

Chất giảm độ nhớt đề cập đến các vật liệu có thể giảm độ nhớt hoặc độ nhớt khi thêm vào mực in.

Chất chống lột da: Chất chống lột da là vật liệu có thể được thêm vào mực để ngăn bề mặt mực hình thành da trong quá trình bảo quản hoặc sử dụng.

Chất làm đặc (bodying-agent) là vật liệu dùng để tăng độ đặc của mực.

Chất chống loang màu: Chất chống đọng lại là một chất liệu có thể được thêm vào mực để cải thiện vết ố trên mặt sau của phần được in.

Bài viết tham khảo thêm: Máy in tem nhãn và phương pháp điều chỉnh, In offset và thuật ngữ ngành in

 

2 thoughts on “In ấn và thuật ngữ ngành in ấn

  1. Pingback: Đồng nhất màu in tem nhãn - Công Ty TNHH Quốc Tế BiNa Việt Nam

  2. Pingback: In lụa và các lỗi do mực in - Công Ty TNHH Quốc Tế BiNa Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *